Case study từ Coke: PlantBottle packaging

plan-bottle

Khác với những gì nhiều người vẫ n nghĩ mía chỉ đơn thuần là một loại nguyên liệu làm ra đường – hương vị cho tất cả thức ăn từ chocolate đến caipirinhas, người Brazil còn sử dụng phần thân mía như một vật phẩm có giá trị sử dụng cao.

Xơ mía, sau khi được sấy khô sẽ trở thành bã mía. Khác xa với ý nghĩ cho rằnng bã mía chỉ là phế phẩm nông nghiệp, nó là một trong nhiều những sản phẩm nông nghiệp có thể chế biến thành năng lượng sinh học, giống như ethanol. Ở Brazil – nơi sản xuất đường lớn nhất thế giới đã phát triển loại vật liệu này, chính phủ cho biết 22% lượng xăng sử dụng trong cả nước là xăng sinh học được chế biến từ bã mía.

Mía có thể được trồng và thu hoạch với rất ít tác động lên môi trường và nó cũng không cạnh tranh với các cây lương thực, nên Enviromental Protection Agency của Mỹ đã gọi nó là Advanced Renewable Fuel (tạm dịch: Năng lượng tái tạo cao cấp) .Và xăng sinh học không phải là thành phẩm duy nhất từ bã mía. Năm 2009, The Coca-Cola Company quan tâm đến việc sử dụng bã mía của nước Brazil như một nguyên liệu để sản xuất chai sinh học PlantBottle – một loại chai nhựa có thể tái chế, được làm một phần từ nguyên liệu tự nhiên, lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường.

PET, loại nhựa được sử dụng trong hầu hết các loại sản phẩm đồ uống, là polyethylene terephthalate, được tạo thành bởi 2 hợp chất: ethylene glycol và terephthalic axít. Nó được biết đến như loại nhựa an toàn cho các bao bì giải khát và khoảng 60% những sản phẩm của công ty Coca-Cola được đóng gói trong PET.

Sáng kiến sử dụng mía vào quy trình sản xuất các loại chai nhựa hóa ra lại thành công hơn mong đợi. Khi dự án thành công, công ty Coca-Cola đặt ra mục tiêu chuyển đổi tất cả các chai nhựa PET thành những loại chai sinh học PlantBottle trước năm 2020 và tìm kiếm nguồn nguyên liệu sinh học và có thể tái tạo, gọi là biomass feedstocks (tạm dịch: nguyên liệu chế biến sinh học), để được sử dụng trong bao bì.

Để đáp ứng mục tiêu này, thứ công ty cần nhiều giải pháp hơn là một loại nhựa mới. Nó cần một hệ thống phân tầng mở.

Đường mía chỉ là điểm mở đầu cho hành trình tìm kiếm các giải pháp mới về bao bì của công ty. Nếu công ty có thể tạo ra vật liệu cho bao bì từ những phế phẩm có sẵn của từng vùng và khí hậu thì sao? Thân ngô ở Trung Tây nước Mỹ, vỏ trấu của châu Á, gỗ vụn ở Maine và Bắc Âu là những nguyên liệu tiềm năng tiếp theo. Trong tương lai, ngay cả rong biển cũng là một nguồn vật liệu tiềm năng.

Thách thức là tìm được một nguồn cung ổn định, không cạnh tranh với cây lương thực mà là phế phẩm của quá trình sản xuất đó. Những nguồn cung này phải tồn tại sẵn và đủ lớn tại địa phương, đủ để cung cấp cho một nhà máy vận hành (mà công ty sẵn sàng xây dựng) cũng như đủ gần với chính nhà máy đó để quá trình vận chuyển không tạo ra nhiều khí thải. Coca-Cola đang cộng tác cùng World Wildlife Fund, và 8 công ty sản xuất hàng tiêu dùng khác, hợp thành một liên minh Bioplastic Feedstock Alliance để đảm bảo rằng chúng tôi hướng đến loại cây trồng có sức tăng trưởng và thu hoạch bền vững.

Picture1

“Đa phần các nguyên liệu trong sản phẩm của chúng tôi được sản xuất tại địa phương” – Scott Vitters, Giám đốc phụ trách chương trình PlantBottle Packaging toàn cầu của Coca-Cola chia sẻ. “Chúng tôi không vận chuyển sản phẩm đến mọi nơi trên thế giới. Vì nhờ vào năng lực sản xuất tại địa phương, chúng tôi có thể thực sự chuyển sang sử dụng loại bao bì được sản xuất tại từng thị trường.”

Lấy ví dụ như, Coca-Cola tại Ấn Độ đã sử dụng mật mía – một sản phẩm phụ sau khi chế biến đường từ mía, nho, hay củ cải đường – để sản xuất ethylene glycol, đó là một trong hai nguyên liệu chính sử dụng cho PlantBottles. Do đó những chai nhựa Coca-Cola ở tiểu lục địa Ấn Độ (Nam Á), không phải vận chuyển đi xa sau khi quá trình sản xuất.

Mục tiêu cuối cùng của Coca-Cola là tính toán phương thức thay thế 70% kia trong chai PET hỗn hợp, axit terephthalic (PTA) trên quy mô sản xuất lớn. Mặc dù khả thi trong phòng thí nghiệm ở quy mô nhỏ, nhưng việc sản xuất trên quy mô lớn vẫn còn nhiều trở ngại. Công ty vẫn đang phối hợp cùng các đối tác kỹ thuật để tìm cách nhân rộng quy mô sản xuất 100% bao bì từ các nguyên liệu tái chế và có thể tái sử dụng.

Trước năm 2014, Coca-Cola đã phân phối hơn 20 tỷ chai đựng sinh học (PlanBottle packages) trên 31 quốc gia, và loại bỏ hơn 190.000 tấn nhiệt hóa hơi khí thải CO2 khỏi quy trình sản xuất – tương đương với việc đốt trên 400.000 thùng dầu.

Sau khi giới thiệu chai đựng sinh học PlantBottle, rất nhiều công ty hàng tiêu dùng khác đã gọi đến để kêu gọi hợp tác cùng Coca-Cola. Lúc đầu công ty cũng khá ngập ngừng để chia sẻ công nghệ – vì dù sao đó cũng là tài sản trí tuệ của công ty, và nguồn cung nguyên liệu vẫn còn khá hạn chế. Nhưng sau cuộc gọi thứ 10 hay 12, công ty bắt đầu nghĩ về vấn đề theo một cách khác. “Chúng tôi nhận ra mình đang sở hữu một thay đổi có tính đột phá, và nó nên được áp dụng rộng rãi trong tất cả các ngành”, Vitters chia sẻ.

Coca-Cola đã cởi mở chia sẻ – vì công ty biết rằng chia sẻ giúp nó tinh gọn hơn.

Việc chia sẻ tỏ ra rất hợp lý về mặt chiến lược: toàn bộ hành tinh sẽ được lợi nếu có nhiều công ty cùng tham gia sử dụng công nghệ này – nhưng Coca-Cola muốn tạo ra ảnh hưởng lớn hơn và nhanh chóng hơn. Vì vậy công ty quyết định hợp tác với những đối tác phù hợp để thúc đẩy nhiều nhà cung cấp cùng tham gia quá trình này. Và đối tác đầu tiên là H.J. Heinze, một Coca-Cola (tiêu chuẩn vàng) của ngành nước sốt. Hai công ty chia sẻ rất nhiều giá trị trong xuyên suốt lịch sử và sự tin cậy đến từ hai phía là rất cao.

Picture1

Thông thường người tiêu dùng không mua tương cà thường xuyên như Coke Zero. Vì vậy, trước đó Coca-Cola tìm kiếm đối tác có quy mô kinh doanh lớn hơn – cho đến khi công ty nhận ra một giá trị khác của chai tương cà: thời gian tồn tại. Chai tương cà của Heinz nằm trên kệ bếp, hoặc trong nhà hàng lâu hơn rất nhiều so với bao bì của bất kỳ loại nước giải khát nào. Vì vậy, chai tương cà với thông điệp “Đoán xem chai đựng của chúng tôi làm bằng gì” (Guess what my bottle is made off?) bất cứ ai cũng tò mò. Tổng số lượt xem của những chai tương cà này trong một năm là rất khổng lồ và từ năm 2011 đến năm 2014, Heinz đã tung ra thị trường hơn 200 triệu chai tương sử dụng bao bì PlantBottle.

Vào năm 2012, công ty tạo ra một dự án hợp tác công nghệ mang tên Plant-PET gồm có Ford Motor Company, H.J.Heinz Company, Nike, Inc., và P&G nhằm tìm cách sản xuất 100% nhựa có thể tái sử dụng từ nguyên liệu thực vật, với các thành phẩm rất đa dạng từ quần áo và các sản phẩm giày dép (tất, giày…) cho đến công nghệ dệt và đóng gói tự động.

Thật may mắn, những sự hợp tác này đã tạo ra ảnh hưởng lớn và hiện nay có nhiều công ty mong muốn xây dựng nhà máy để gia chế biomass (năng lượng sinh khối) như PlantBottle sử dụng.

Với cách tiếp cận này – thiết kế PlantBottle Packaging như một hệ thống phân tầng mở, có thể giúp Coca-Cola nhanh chóng đạt đến viễn cảnh sản xuất bao bì từ những nguyên liệu tự nhiên có sẵn của từng vùng: chai làm từ vỏ cam ở châu Á, vỏ cây ở Nga, và cùi bắp (corn stalks) ở Nepal.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *