Giết chết tư duy nhân danh học hỏi

study

Trên tờ New Yorker có một bài báo tuyệt cú mèo.

Bài báo đó của John Lanchester có tựa là “Tiếng Nói Đồng Tiền”.

Nó nói về việc học hỏi các thuật ngữ đã giết chết khả năng tư duy thế nào.

Ông mô tả cách đó như sau: để những lề luật tài chính nhất định trở nên trang trọng hơn, đầu tiên người ta diẽn giải nó bằng các hình ảnh ẩn dụ.

Sau đó, các hình ảnh ẩn dụ này trở thành thuật ngữ.

Thuật ngữ sau đó lại đi vào thực tế.

Nghĩa là không ai nghi vấn về nó nữa.

“Quỹ Đầu Tư Thanh Khoản – Hedge Fund” là một ví dụ điển hình.

Ngày trước, từ này “hedge fund” có nghĩa là đặt cược hai cửa.

Vì là đặt hai cửa, nên bạn sẽ không thua hết cho một bất kỳ cửa nào cả.

Bạn đặt một hàng rào hiệu quả hay một hạn mức (hedge) quanh số tiền đầu tư của mình.

Bạn rào mức cược của mình lại.

Quỹ Đầu Tư Thanh Khoản, nói trắng ra là những tổ chức có chuyên gia rải tiền đầu tư của bạn ở nhiều nơi nên bạn sẽ không bị lỗ.

Nhưng sự cạnh tranh giữa các công ty nay trở nên khốc liệt.

Và mức lời tài chính trở nên quan trọng hơn là mức an toàn.

Thế là quỹ đầu tư thanh khoản nhanh chóng trở thành nơi thu hút đầu tư hiếm và mạo hiểm.

Vào năm 2010, có 7.200 quỹ đầu tư thanh khoản, và 750 quỹ phá sản.

Vào năm 2011, có thêm 873 quỹ nữa phá sản, và vào năm 2012, có thêm 904 quỹ nữa đi tong.

Điều sai lầm là không ai nghi hoặc thuật ngữ: “quỹ đầu tư thanh khoản” cả.

Mức hạn định, rào chắn, bảo vệ tiền đầu tư nó nằm ở đâu kia chứ?

Một ví dụ khác mà Lanchester đưa ra đó là “Chứng khoán – Securities”.

“Security” nghĩa là bảo vệ an toàn cho thứ gì đó.

Nhưng trong tài chính, “security” có nghĩa là biến thứ gì đó thành tài sản buôn bán được được.

Và thứ tài sản buôn bán được đấy có thể là bất cứ cái gì.

Từ quyền sở hữu những album nhạc trong tương lai của David Bowie cho đến bong bóng nợ nhà thu nhập thấp.

Đây chính là thứ đã dẫn đến sự sụp đổ kinh tế toàn cầu vào năm 2008.

Ồ, thì ra, cuối cùng là không có an toàn lắm há.

Nhưng cũng không ai nghi ngờ chữ “Security” cả.

Họ hấp thu những thuật ngữ và chấp nhận nó như một thực tế vậy thôi.

Ông còn đưa ra những ví dụ về những thuật ngữ khác mà không ai nghi vấn gì cả, chẳng hạn như:

“Tín dụng” (Credit – nghĩa gốc là “niềm tin, uy tín) nay có nghĩa là nợ.

“Lạm phát” thực ra có nghĩa là đồng tiền mất giá.

“Đầu cơ” (leverage) nói trắng ra là vay tiền – một nghĩa rất lạ lẫm.

“Tích hợp chiến lược” (synergy) thực tế có nghĩa là sa thải nhân viên. “Bảo lãnh” (Bail out) trắng ra là rót thêm tiền vào.

Và đó chính là cội rễ của một chuỗi những hình ảnh ẩn dụ, biến thành thuật ngữ và rồi thành thực tế.

Và những người trẻ học thương mại tin rằng những thuật ngữ này chính là thực tế thị trường và cuộc sống.

Trong ngành quảng cáo cũng vậy.

Để quan trọng hoá vấn đề, người ta biến tất cả thành thuật ngữ.

Thuật ngữ thì không thể hiểu cho nên chả thể nào bị nghi vấn cả.

Mà không bị nghi vấn thì có nghĩa nó là thực tế.

Hãy lắng nghe xem, trong mọi cuộc họp đều có những từ đại loại như:

Brand audit (đo lường thương hiệu), cluster groups (phân mảng nhóm, phân khúc, thâm nhập thị trường), CRM (chăm sóc khách hàng), SEO, CSR (hoạt động xã hội), ROI (lợi nhuận đầu tư), KPI (chỉ số đánh giá mục tiêu), integrated (tích hợp), transactional (quản lý giao dịch), native advertising (quảng cáo truyền thống), value-added (tăng thêm giá trị).

Differentials (điểm khác biệt), core competency (lợi thế cạnh tranh cốt lõi), ideation (quá trình sáng tạo ý tưởng), hygiene factors, demographics (thống kê nhân khẩu), psychographics (thống kê tâm lý học), profile testing (nghiên cứu người dùng), deliverables (yêu cầu cần thực hiện), storytelling (nghệ thuật kể chuyện), narrowcasting (truyền tải thông điệp), acquisition (thâu tóm), rate card (bảng giá dịch vụ chuẩn), deep dive (đào sâu nghiên cứu).

 

Thường thì chúng ta có nghi vấn mấy thuật ngữ này không?

Nhưng nếu ta không nghi vấn, thắc mắc, làm sao ta hiểu được nó nói gì đây.

 

Chúng ta chỉ đang học như vẹt vậy thôi đó.

Mà học như vậy thì đâu phải mục tiêu của “học hỏi”?

— trích “Một với Một là Ba” của Dave Trott, copywriter huyền thoại người Anh – đồng tác giả của  sách “Ngấu Nghiến Nghiền Ngẫm”.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *